LỊCH SỬ NGÀY HIẾN CHƯƠNG CÁC NHÀ GIÁO
Tháng 01 năm 1946, một tổ chức quốc tế các nhà giáo
tiến bộ được thành lập ở Pari (thủ đô nước
Pháp) lấy tên là FISE (Féderation International Syndicale des
Enseignants - Liên hiệp quốc tế các Công đoàn Giáo
dục). Năm 1949, tại Hội nghị quốc tế Vacsava (Varsovie
- Thủ đô của Ba Lan) tổ chức FISE xây dựng một bản
"Hiến chương các nhà giáo" gồm 15 chương với nội
dung chủ yếu là đấu tranh chống nền giáo dục tư
sản, phong kiến; xây dựng nền giáo dục tiến bộ;
bảo vệ những quyền lợi vật chất và tinh thần
chính đáng của nghề dạy học và nhà giáo. Trong
những năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược,
Công đoàn Giáo dục Việt Nam đã quan hệ với FISE để
tranh thủ các diễn đàn quốc tế tố cáo âm mưu tội
ác của bọn đế quốc xâm lược đối với nhân dân
ta cũng như đối với giáo viên và học sinh đồng
thời giới thiệu những thành tích của nền giáo dục
cách mạng, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của toàn
thể giáo viên trên thế giới đối với cuộc kháng
chiến chính nghĩa của nhân dân ta. Vào mùa xuân năm
1953, Đoàn Việt Nam do Thứ trưởng Bộ Quốc gia Giáo
dục Nguyễn Khánh Toàn làm trưởng đoàn dự Hội nghị
quan trọng kết nạp Công đoàn Giáo dục của một số
nước vào tổ chức FISE tại Viên(Thủ đô nước áo),
trong đó có Công đoàn Giáo dục Việt Nam. Như vậy,
chỉ một thời gian ngắn sau khi thành lập (22.7.1951),
Công đoàn giáo dục Việt Nam đã được kết nạp là
một thành viên của FISE. Từ ngày 26 đến 30/8/1957,
tại Thủ đô Vacsava, Hội nghị FISE có 57 nước tham
dự, trong đó có cả Công đoàn Giáo dục Việt Nam,
quyết định lấy ngày 20 tháng 11 làm ngày Quốc tế
Hiến chương các nhà giáo. Ngày 20/11/1958, lần đầu
tiên ngày "Quốc tế Hiến chương các nhà giáo" được
tổ chức trên toàn miền Bắc nước ta. Những năm sau
đó, ngày Lễ 20 tháng 11 còn được tổ chức tại các
vùng giải phóng ở miền Nam. Hàng năm vào dịp Kỷ
niệm 20- 11, cơ quan tiểu ban giáo dục thường xuất
bản, phát hành một số tập san đặc biệt để cổ
vũ tinh thần đấu tranh của giáo giới trong vùng tạm
chiếm, động viên tinh thần chịu đựng gian khổ hy
sinh của anh chị em giáo viên kháng chiến. Sau ngày
đất nước được thống nhất 30/4/1975, nền giáo dục
cả nước được thống nhất, giáo giới Việt Nam
đoàn kết nhất trí xây dựng nền giáo dục theo định
hướng xã hội chủ nghĩa của Đảng Cộng sản Việt
Nam Ý nghĩa của ngày "Quốc tế Hiến chương các nhà
giáo" đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử với giáo giới
Việt Nam. Song ngày 20 -11 đã trở thành truyền thống
với nội dung mới của giáo giới Việt Nam và của
nhân dân Việt Nam Chính vì thế theo đề nghị của
ngành Giáo dục, ngày 28/9/1982 Hội đồng Bộ trưởng
(nay là Chính phủ) đã ban hành Quyết định số 167 -
HĐBT về ngày Nhà giáo Việt Nam. Nội dung Quyết định
có những điều khoản như sau: Điều 1: Từ nay hàng
năm sẽ lấy ngày 20 - 11 là ngày Nhà giáo Việt Nam
Điều 2: Để ngày Nhà giáo Việt Nam có ý nghĩa thiết
thực hàng năm, từ tháng 10 các cấp chính quyền và
đoàn thể cần họp để xem xét tình hình công tác và
hoạt động của đội ngũ giáo viên ở địa phương
mình; kiểm điểm những việc đã làm và đề ra những
việc cần tiếp tục làm nhằm động viên đội ngũ
giáo viên phát huy truyền thống tốt đẹp của giáo
giới Việt Nam, rèn luyện phẩm chất và năng lực, làm
gương sáng cho học sinh noi theo. Về phía giáo viên,
cần có những hoạt động phong phú nhằm nâng cao nhận
thức về vinh dự và trách nhiệm của người giáo viên
trong xã hội nước ta ngày nay, từ đó mà ra sức phấn
đấu làm tốt hơn nhiệm vụ cao cả của mình. Điều
3: Việc tổ chức ngày 20 tháng 11 hàng năm do Uỷ ban
nhân dân và Hội đồng giáo dục các cấp chủ trì, có
sự phối hợp của ngành giáo dục và các đoàn thể
nhân dân. Các cấp, các ngành cần phân công cán bộ
lãnh đạo đi thăm hỏi giáo viên, tổ chức các cuộc
gặp mặt thân mật với giáo viên, nhân dịp này có
thể tổ chức khen thưởng các giáo viên có thành tích.
Việc tổ chức ngày Nhà giáo Việt Nam cần được
tiến hành trọng thể và thiết thực, tránh hình thức
phô trương gây phiền hà cho học sinh và cha mẹ học
sinh. Điều 4: Trong ngày 20 tháng 11, các trường có thể
sắp xếp lại việc học tập và giảng dạy để giáo
viên được nghỉ và tham gia các hoạt động của nhà
trường và của địa phương. Ngày 20 tháng 11 năm 1982,
là Lễ kỷ niệm ngày Nhà giáo Việt Nam đầu tiên
được tiến hành trọng thể trong cả nước ta, và từ
đó dến nay, đây là ngày để học trò thể hiện tình
cảm quý mến, kính trọng với thầy giáo, cô giáo -
những người đã dày công vun đắp cho chúng ta - những
cây đời mãi mãi xanh tươi./. Nguồn:
http://www.thanhdoan.hochiminhcity.gov.vn/forums/PrintPost.aspx?PostID=1383
Chào mừng quý vị đến với Website của Lê Văn Thắng.
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy đăng ký thành viên tại đây hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
Gốc > Bài viết >
Lê Văn Thắng @ 19:57 04/04/2012
Số lượt xem: 504
Giỗ tổ Hùng Vương 10/3 âm lịch
Ngày giỗ tổ Hùng Vương hay còn gọi là "Lễ hộiĐền Hùng" là một ngày lễ của Việt Nam, là ngàyđể tất cả mọi người cùng về đất nước Việt Nam này để tận hưởng được giá trị của sự bình yên và sự hi sinh của những đồng bào có công cùng các Vua Hùng dựng nước. Lễ được tổ chức hàng năm vào ngày 10 tháng 3 âm lịch tại Đền Hùng, Việt Trì, Phú Thọ. Đây là ngày hội truyền thống của dân tộc nhằm mục đích tưởng nhớ đến công ơn các Vua Hùngđã có công dựng nước. Theo truyền thuyết thì Lạc Long Quân và Âu Cơ được xem như là thủy tổ người Việt, cha mẹ của các Vua Hùng. Hình vẽ vua Hùng Thời kỳ Hùng Vương là một giai đoạn rất quan trọng trong lịch sử dân tộc. Chính thời kỳ này đã xây dựng nên một nền tảng của dân tộc Việt Nam, nền tảng văn hóa Việt Nam và truyền thống yêu nước. Ngày nay nhân dân ta lấy ngày 10 tháng 3 âm lịch hàng năm làm ngày giỗ tổ và cùng nhau về thăm đền Hùng đểtửơng nhớ đến cội nguồn, tổ tiên của dân tộc Việt Nam. Ngày giỗ tổ Hùng Vương đã được công nhận là một trong những ngày quốc lễ của Việt Nam thể hiện rõ đạo lý "uống nước nhớ nguồn" hay "ăn quả nhớ kẻ trồng cây" như một tinh thần văn hóa Việt Nam. Ngày này cũng được chính phủ Việt Nam cho phép những người lao động được nghỉ lễ kể từnăm 2007. Nhân dân Việt Nam có câu lưu truyền từ xa xưa: '''Dù ai đi ngược về xuôi/ Nhớ ngày giỗ tổmùng mười tháng ba.''' Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương, đểhòa cùng lòng tưởng nhớ của triệu triệu con đất Việt hướng về tổ tiên dựng nước, kỳ sĩ Phong Thần khắp nơi trong Tam Giới cũng chuẩn bị những chiếc bánh chưng, bánh tét để tỏ lòng thành kính hướng về các bậc tổ tiên. ------------------ Tục truyền thì vua Đế Minh là cháu ba đời của vua Thần Nông, đi tuần thú phương nam đến núi Ngũ Lĩnh (thuộc tỉnh Hồ Nam bây giờ) gặp một nàng tiên, lấy nhau,đẻ ra người con tên là Lộc Tục. Sau Đế Minh truyền ngôi lại cho con trưởng là Đế Nghi là vua phương bắc, và phong cho Lộc Tục làm vua phương nam, xưng là Kinh Dương Vương, quốc hiệu là Xích Quỉ. Bờ cõi nước Xích Quỉ bấy giờ phía bắc giáp Động Đình hồ (Hồ Nam), phía nam giáp nước Hồ Tôn (Chiêm Thành), phía tây giáp Ba Thục (Tứ Xuyên), phía đông giáp bểNam Hải. Mộ phần Kinh Dương Vương, hiện còn tại làng An Lữ, Thuận Thành, Bắc Ninh. Kinh Dương Vương làm Vua vào khoảng năm Nhâm Tuất (hơn 2000 năm trước Công Nguyên). Kinh Dương Vương lấy con gái Thần Long là Vua Hồ Ðộng Ðình sinh một con trai đặt tên là Sùng Lãm, sau nối ngôi Vua cha niên hiệu là Lạc Long Quân, lấy con gái Ðế Lai là bà Âu Cơ sinh ra một bọc trăm trứng, một trăm trứng nở ra một trăm người con là tổ tiên của người Bách Việt. Một hôm nhà Vua bảo bà Âu Cơ: "Ta là giống Rồng, nàng là giống tiên, thủy hỏa khắc nhau, chung hợp thật khó" Bèn từ biệt , chia năm chục người con theo mẹ lên núi, năm chục người con theo cha về phía nam miền biển. Lạc Long Quân phong cho con trưởng làm Hùng Vương nối ngôi Hùng Vương lên ngôi Vua, đặt quốc hiệu là Văn Lang, đóngđô ở Phong Châu (Bạch Hạc, Vĩnh Phú ), chia nước ra làm 15 bộ: 1. Văn Lang (Bạch Hạc, Vĩnh Phú ) 2. Châu Diên (Sơn Tây). 3. Phúc Lộc (Sơn Tây ) . 4. Tân Hưng (Hưng Hoá-Tuyên Quang). 5. Vũ Ðịnh (Thái Nguyên-Cao Bằng) . 6. Vũ Ninh (Bắc Ninh). 7. Lục Hải (Lạng Sơn). 8. Ninh Hải (Quảng Yên). 9. Dương Tuyền (Hải Dương). 10. Giao chỉ (Hà Nội, Hưng Yên, Nam Ðịnh, Ninh Bình). 11. Cửu Chân (Thanh Hoá). 12. Hoài Hoan (Nghệ An). 13. Cửu Ðức (Hà Tĩnh). 14. Việt Thường (Quảng Bình-Quảng Trị). 15. Bình Văn ( ? ) Theo sử cũ thì nước Văn Lang chia ra làm 15 bộ: Hùng Vương đóng đô ở Phong Châu (bây giờ ở vào địa hạt huyện Bạch Hạc, tỉnh Vĩnh Yên), đặt tướng văn gọi là Lạc hầu, tướng võ gọi là Lạc tướng, con trai vua gọi là Quan lang, con gái vua gọi là Mị nương, các quan nhỏ gọi là Bồchính Họ Hồng Bàng làm vua được 18 đời, đến năm quí mão (285 trước CN) thì bị nhà Thục lấy mất nước. Từ đời Kinh Dương Vương đến đời Hùng Vương thứ 18, cả thảy 20 ông vua, tài liệu bị thất lạc qua chiến tranh ? "thương hải biến vi tang điền". Từ ngày lập quốc bị nhiều phen ngoại bang đô hộ,sử sách bị đốt, thất lạc muốn tra cứu rất khó. Nhưng không thể nghi ngờ được nguồn gốc văn minh Việt tộc.Truyền thuyết Hùng Vương đã ghi lại từcuối thế kỷ thứ 14. Sử quan Ngô Sĩ Liên ( ?- 1442) biên soạn Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư hoàn thành năm 1479 chính thức vinh danh các đời vua Hùng Vương trong Quốc sử, ghi nhận các đời vua Hùng Vương có công dựng nước . Cũng từ đời Lê đã soạn thảo luật Hồng Ðức (1470-1497) bộ luật nầy là sự hoàn chỉnh các luật căn bản từ thời dựng nước qua các căn bản chính như : Ðức trị, Nhân trị và Pháp trị mãi cho đến chương trình Luật trước năm 1975 còn dùng luật nầy để đối chiếu. Ðó là bộ Quốc Triều Hình Luật nhả Hậu Lê. Ðược soạn thảo từ đời Lê Lợi (1428) mãi đến đời Lê Thánh Tôn (1460-1468) sauđó là Hồng Ðức (1470-1497) Như vậy về luật pháp nước ta đã có những văn bản trên bình diện quốc gia, có căn bản về Nhân bản và Nhân đạo trước đó hơn 300 năm?. Thế giới Tây phương văn minh tiến bộnhưng luật Dân quyền Anh Quốc 1689, Tuyên ngôn nhân Quyền và Dân Quyền Pháp 1789 và luật Dân Quyền Hoa Kỳ 1791... Nhiều Sử Gia đã nghi ngờ về Họ Hồng Bàng không có thật? Sử quan Ngô sĩ Liên đã đưa chuyện thần thoại hoang đường vào chính sử. (nhưchuyện Phù Ðổng Thiên Vương, Sơn Tinh Thuỷ Tinh..v. v.). Nếu chúng ta xét theo sự phát triển của khoa họcđể soi lại dấu chân lịch sử lắm nhiều hoài nghi về nguồn gốc văn minh của thời đồ đá. Con người vốn do Thượng Ðế tạo dựng không thể sinh ra từtrứng? Nếu lấy khoa học để xét lại những truyền thuyết những chuyện hoang đường.. thì lợi bất cập hại, làm mất cái hay cái đẹp của huyền sử mang nhiều ý nghiã đẹp một niềm tự hào cuả tổ tiên . Dù là huyền thọai nhưng bao gồm triết lý sống làm nền tảng từ thời sơ khai trong tinh thần và tâm linh, luôn là căn bản trong tình đoàn kết và tự hào dân tộc qua nhiều thế hệ.. Tổ tiên ta đã hy sinh xương máu để bảo vệ đất nước tồn tại đến ngày nay Ðiạ lý nước Việt nam "biên giới từ ải Nam Quanđến mũi Cà Mau ". Nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam làm mất ải Nam quan một phần lãnh hải, lãnh thổbiên giới là phản bội Dân tộc và Tổ tiên Cái truyền thuyết dẫn chứng nguồn gốc chúng ta là Con Rồng Cháu Tiên tuy không đúng với khoa học. Nhưng mỗi dân tộc đều có quyền ca tụng tổ tìên của mình "trăm năm bia đá thì mòn, ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ". Người Nhật họ từ hào nguồn gốc dân tộc họ là Thái Dương Thần Nữ? Ngày nay Nhật Bản tiến bộ về khoa học nhất tại Á Châu, nhưng họ có đặt vấn đề tìm hiểu lại nguồn gốc văn minh cho đúng với tinh thần khoa học ngày nay? Thành lập nước Văn Lang của các Vua Hùng giai đoạn còn phôi thai đầu tiên của Việt Nam. Dù mới hình thành nhưng đã cố kếtđược lòng người, từ tình cảm cộng đồng dẫnđến ý thức cộng đồng, thể hiện rõ tình đồng bào ruột thịt, bước đầu hiểu được mối quan hệgiữa thiên nhiên và con người thấy được sức mạnh của cộng đồng trong việc làm thuỷ lợi, trao đổi sản phẩm và đấu tranh giữ gìn bản làng, đất nước. Xã hội Việt tộc nguyên thủy đã kết hợp với nhau bằng Tâm cư xử với nhau bằng Ðức. Ðền Hùng Vương ở Lâm Thao tỉnh Phú Thọ xây từ 250 năm trước tây lịch. Thuộc thời Thục An Dương Vương xâyđể tưởng nhớ công đức của các thế hệ dựngđất nước Văn Lang. Từ đó đến nay hơn 2251 năm, lịch sử đất nước ta trải qua 3 lần Bắc thuộc Bắc thuộc lần thứ nhất (111 trước công nguyên – 39 sau công nguyên Bắc thuộc lần thứ hai (40-43) Bắc thuộc lần thứ Ba (603-939) Quốc Hiệu · Ðại CồViệt 968 (mậu tìn) Ðinh Tiên Hoàng · Ðại Việt 1054(giáp ngọ) Lý Thánh Tông · Ðại Ngu 1400(canh thìn) Hồ Quý Ly · Ðại Việt 1428(mậu thân) Lê Thái Tổ · Việt Nam 1804 (giáp tý) Gia Long · Ðại Nam 1838 (mậu tuất) Minh mạng · Việt Nam 1945(ất dậu) Bảo Ðại (1) Các giai đoạn kháng chiến của tổ tiên Lần thứnhất, kháng Tống năm 981 của vua Lê Ðại Hành (980-1005) Lần thứ nhì, kháng Tống năm 1076 nhà Tống xâm lăng bị Lý Thường Kiệt(1019-1059 đánh bại ởsông Như Nguyệt (Bắc Ninh) Lần thứ ba, tư và năm, kháng Nguyên các năm 1257, 1284 và 1287 nhờ lòng quyết chiến của Hội Nghị Diên Hồng năm 1284 do Thượng hoàng Trần Thánh Tông(1240-1290) triệu họp các bao lão trong cả nước để trưng cầu dân ý hỏi chủ trương nên hoà hay chiến chống lại quân Nguyên Mông sang xâm lược lần thứ II. Được toàn dân ủng hộ các dũng tướng Trần Thủ Ðộ, (1194-1264), Trần Bình Trọng (1259-1295) cùng quân dân đã hy sinh xương máu bảo vệ độc lập đẩy lui đoàn quân bách chiến bách thắng của Thành Cát Tư Hãn Lần thứ sáu, kháng Minh vì có sự thay đổi Hồ quý Ly (1336-1407) lật đổ nhà Trần. Quân nhà Minh lợi dụng cơ hội đem quân sang đánh chiếm. Phải mất 10 năm Lê Lợi (1385-1433) kháng chiến chống lại quân Minh dành lại Ðộc lập. Lần thứbảy, kháng Thanh năm 1789 Quang Trung (1753-1792) đánh bại vua Lê Chiêu Thống (1786-1788) chạy sang Tàu cầu cứu. Nhà Thanh đưa quân sang chiến nước ta, nhưng đã bịvua Quang Trung đánh bại vào ngày mùng 5 tháng giêng năm Kỷ dậu 1789 giải phóng Thăng Long và giữa vững bờcõi Việt Nam.... Lần thứ tám, chống thực dân Pháp từ năm 1884 cho đến ngày dành lại độc lập năm 1945. Sau hiệp định Genève (20.7.1954) Hoa Kỳ quyết địnhủng hộ VNCH để chận đứng làn sóng cộng sản quốc tế Nga-Hoa. Ngày 08.03.1965, tiểu đòan 3 thuỷ quân lục chiến thuộc lữ đoàn 9 Hoa Kỳ đầu tiên đổ bộ lên bãi biển Xuân Thiều (Nam Ô) thuộc xã Hoà Hiệp, huyện Hoà Vang nay thuộc quận Liên Chiểu Đà Nẵng, cùng ngày tiểu đoàn thứ 2 được không vận từ Nhật đến sân bay Đà Nẵng. Sau đó hơn nửa triệu quân Đồng Minh vào Việt Nam giúp VNCH chống cộng sản. Cuộc chiến kéo dài hơn 20 năm khoái lửa, bom đạn tàn phá quê hương, Người Mỹ vì quyền lợi của nước Mỹ nên ký Hiệp định Paris ngày 07.01.1973 Hoa Kỳ rút quân khỏi Việt Nam, những đơn vị cuối cùng của quânđội Hoa Kỳ rời Nam Việt Nam vào ngày 29.3.1973 bỏmặc người bạn đồng minh VNCH cho đến ngày bức tử30.4.1975. Theo triết gia Kim Định “ngày 30/4/1975 không chỉ là cái tang của người Việt Nam, mà còn có thểnói là cái tang chung của nhân loại để tiếc thương cái chết của mẫu người cần thiết cho bất cứnước nào dân nào không muốn mang vào đầu cổ cái tròng làm trâu, làm ngựa. “ Hàng năm tưởng nhớ TổTiên người đựng nước, toàn dân Việt Nam làm Giỗtổ, nhằm mùng 10 tháng 3 Âm Lịch, thường gọi là Hội Ðền Hùng hay ngày Giỗ tổ Hùng Vương, một lễtrọng đại Việt Nam vì bao hàm Tổ Quốc mà luôn cảTổ Tiên, ca dao truyền tụng trong Dân gian. Tháng Giêngăn tết ở nhà Tháng Hai cờ bạc, tháng Ba hội hè Dù ai đi ngược về xuôi Nhớ ngày Giỗ Tổ mùng Mười tháng Ba Giổ Tổ Hùng Vương không phải chỉ đề cao niềm tự hào dân tộc, còn nhắc nhở chúng ta phải tìm hiểu thấu đáo bản sắc dân tộc, và chúng ta phải làm gì và có thể làm được những gì ích lợi cho cộng đồng cho dân tộc, tổ tiên có nếp sống cho gia đình và dòng tộc, quây quần bên nhau, thương yêu dùm bọc lẫn nhau. Gia đình là môi trường trưởng dưỡng thích hợp để tình thương luôn khởi sắc, và phát triển hồn nhiên trong sáng nếp sống bắt nguồn trong tình yêu gia đình, để biết ơn thành kính đối với ông bà, cha mẹ, Phong tục thờ cúng ông bà khởiđầu không phải do ý thức tín ngưỡng như các tôn giáo khác đã du nhập vào Việt Nam. Công cha như núií Thái Sơn Nghiã mẹ như nước trong nguồn chảy ra Một lòng thờ mẹ, kính cha Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con Tu đâu không bằng tu nhà Thờ cha kính mẹ, mới làđi tu.. Nhờ truyền thống nền tảng tâm linh thờ cúng tổ tiên, từ đời nầy sang đời khác. Các tôn giáo du nhập vào Việt Nam, không bị kỳ thị phân biệt mọi người đều có tự do chọn lựa đức tin, Bởi thếsuốt trong lịch sử Việt Nam không có chiến tranh vềtôn giáo. Tiền nhân đã ý thức vai trò của con người trong xã hội và sự liên hệ giữa người với người và với thiên nhiên hài hòa đời sống, là bước khởiđầu trong tiến tình chuyển hóa tâm thức để giúp con người bước vào tiến trình thăng hoa với định hướng con người, tương thông với vũ trụ mà khởiđiểm là tương thông với ông bà tổ tiên . Thế kỷthứ 16 Thiên Chuá Giáo được các Thừa Sai người Tây Phương truyền bá vào Việt Nam. Ðể rao giảng tin mừng và lòng bác ái ... Nhưng các Thừa sai chưa am hiểuđược phong tục Việt Nam, áp dụng theo các Giáo luật La Mã khắc khe giáo điều, đụng chạm đến phong tục lâu đời cuả dân Việt trong việc thờ cúng tổ tiên. Theo sau là sự bành trướng chủ nghiã đế quốc, thuộc điạ các các nước Âu Châu. Thực dân Pháp lợi dụng cơ hội truyền đạo để xâm lăng nước ta đã gây nên làng sóng chống đối mạnh, máu xương của Tiền nhân đổ ra để dành lại độc lập Giáo luật của Tòa thánh La Mã. lúc bấy giờ còn qúa cứng trong khuôn khổ khó phù hợp với xã hội Việt Nam?. Nguồn gốc người Việt lâu đời trong Ðạo Thờ cúng ông bà Tổ Tiên, mỗi nhà có bàn thờ tượng trưng như một truyền thống văn hóa của Dân tộc Việt Nam, không ai có quyền cấm đoán, Phật giáo, Nho giáo cũng du nhập từ Trung Hoa, Ấn độ hay Nhật bản nhưng luôn tôn trọng tập tục của người Việt. " Giáo luật Thiên chúa thời đó ngăn cấm tín đồ thờ cúng tổ tiên. ngày kỵ giổ tưởng nhớ ông bà, hay làm tang lễ cho thân nhân Giáo dân chỉ xin lễ tại nhà thờ, khôngđược làm lễ tại nhà? Việc thờ cúng tổ tiên là nền tảng truyền thống tình thần xã hội và triềuđình Việt nam. Nên không thể tránh được những mâu thuẩn." " Kể từ đầu thập niên 60 Công đồng Vaticanô II Giáo hội Thiên chúa giáo La mã (Roma) có những thay đổi để phù hợp với văn hoá các nưóc trên thế giới. Riêng tại Việt nam giáo dân có thểthiết lập bàn thờ và tổ chức cúng kỵ ông bà cha mẹ tại nhà." Giáo Hội Thiên chuá Giáo La Mã (Roma) sửa lại các giáo luật để phù hợp với mọi quốc gia trên thế giới. Vấn đề thờ kính Thiên Chuá và lòng bác ái phải thích hợp với đời sống tâm linh và phong tục. Sau 30.4.1975 người Việt Nam chúng ta ra đi không chỉ mang theo quê hương mà chúng ta còn mang theo cả truyền thống sinh tồn của dân tộc. Cộng đồng người Việt ở rải rác khắp năm Châu ảnh hưởng văn hóa đa dạng, nhưng sinh hoạt của người Việt vẫn giữ lại những nét đặc thù văn hóa Việt Nam Tổ tiên những người có công dựng nước thì gọi là Quốc Tổ Hùng Vương, không phải niên hiệu của một triều đại. Vì thế giổ Tổ là một truyền thống bản sắc của dân tộc Việt Nam, không phải là cuộc trình diễn, không mang tính chất tôn giáo, mê tín dị đoan. Nhưng nó phát xuất từ tận đáy lòng sự thành kính đối với Quốc Tổ Việt Nam, với hồn thiên sông núi... Cuộc đời viễn xứ 35 năm của chúng ta phải làm và có thể làm được những gì? ích lợi cụ thểgiúp cho cộng đồng, cho dân tộc của mình để không phụ ơn vong linh người xưa. Luôn nêu cao tình thầnđoàn kết của người Việt trong cộng đồng thếgiới. Tổ chức giỗ Tổ Hùng Vương hàng năm, giữtruyền thống dân tộc để ngày về nguồn không còn xa nữa! đừng quên kẻ thù phương Bắc không bao giờ bỏmộng bá quyền. Thế kỷ 21 Việt Nam không thể nào tái diễn là nạn „bắc thuộc“ đó là bổn phận của toàn dân. Nguồn: Internet
Lê Văn Thắng @ 19:57 04/04/2012
Số lượt xem: 504
Số lượt thích:
0 người
 
- THÀNH LẬP ĐOÀN THANH NIÊN CỘNG SẢN HỒ CHÍ MINH (26/03/12)
- Lịch sử ngày Quốc tế Phụ nữ 8/3 (22/03/12)
- Ngày Valentine 14/02 (06/03/12)
- LỊCH SỬ NGÀY THÀNH LẬP ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM (03/02/12)
- Một số trò chơi dân gian ngày tết (28/01/12)
Các ý kiến mới nhất